This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Yếu tố gen trong ung thư buồng trứng

(Lâm Thị Thành - Long An)

Tần suất bị ung thư buồng trứng (UTBT) tăng lên theo tuổi. Ở phụ nữ trong độ tuổi từ 50 - 75 thì tần suất hàng năm là 50/100.000 người (xấp xỉ hai lần tần suất tại người trẻ hơn). Ở người trẻ thì tần suất ung thư liên quan tới đột biến gen sẽ nhiều hơn và chẩn đoán trễ.

Yếu tố gen trong ung thư buồng trứng

Việc xác định người nào có nguy cơ cao bị UTBT là vô cùng quan trọng vì lúc đó sẽ chọn lựa được nhóm người có giá trị trong chiến lược tầm soát bệnh. Cho tới hiện tại thì một số lượng lớn các yếu tố nguy cơ gây bệnh đã được xác định, trong đó có yếu tố về gen. Nguy cơ UTBT được biết chắc chắn nhất hiện tại là tiền sử gia đình, yếu tố này hiện diện ở 10 - 15% phụ nữ bị bệnh UTBT. Một phụ nữ có một hoặc nhiều thành viên trong gia đình bị UTBT thì phải phân biệt hai yếu tố: UTBT liên quan tiền sử gia đình hay hội chứng UTBT gia đình (hiếm gặp). Theo phân tích thống kê, những phụ nữ thế hệ thứ nhất hoặc thứ hai trong mối liên lạc với người UTBT sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, tỉ lệ mắc bệnh khi người phụ nữ được 35 tuổi là 1,6 - 5% tại kiểu UTBT liên quan tiền sử gia đình. Ngược lại đối với hội chứng UTBT gia đình (di truyền) thì nguy cơ mắc bệnh rất cao (khoảng 50%).

Hội chứng UTBT gia đình không thuờng gặp, ước tính khoảng 5 - 10% các trường hợp. Hội chứng này bao gồm: hội chứng UTBT - tuyến vú, hội chứng Lynch II, nó liên quan đến các ung thư đại tràng, vú, tử cung và UTBT với ung thư đại trực tràng không do polyp (di truyền). Hội chứng di truyền thường gặp nhất chính là hội chứng UTBT - tuyến vú. Phần to các gia đình này có đột biến gen BRCA1 & BRCA2. Tần suất mang đột biến gen BRCA không như nhau giữa các dân tộc. Dạng này hay gặp tại tuổi rất trẻ (dưới 50 tuổi) và diễn ra tại nhiều thành viên gia đình (từ hai - 4 thế hệ).

BS.CKII. ĐẶNG MINH TRÍ

Béo phì làm tăng nguy cơ hen, dị ứng ở các bé gái

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lại phát hiện ra điều ngược lại ở các bé trai béo phì. So với những bé trai có cân nặng bình thường, những bé trai béo phì giảm nhẹ nguy cơ bị hen, dị ứng thực phẩm và eczema.

Các nhà nghiên cứu ở Trung tâm y khoa SUNY Downstate tại New York đã xem xét 113 trẻ (45% là nữ và 55% là nam), khoảng ¼ trong số đó bị béo phì. Tất cả những trẻ này đều sống ở New York, độ tuổi từ 8 – 9.

Nhóm nghiên cứu xem xét tiền sử sức khỏe để đánh mức chi phí một loạt tình trạng dị ứng, bao gồm hen, dị ứng thực phẩm, dị ứng theo mùa và/hoặc eczema. Trẻ được chia theo điểm số dị ứng, những trẻ gặp càng nhiều tình trạng dị ứng điểm số càng cao. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng, các bé gái béo phì có điểm số dị ứng cao hơn so với những bé gái có cân nặng thông thường (4 so với 2,6). Ngược lại, những bé trai béo phì lại có điểm số dị ứng thấp hơn một chút so với những bé có cân nặng thông thường (3 so với 3,4).

Các nhà nghiên cứu kém chất lượng thuyết rằng, những khác biệt vào hormone có thể khiến các bé gái dễ bị dị ứng hơn. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ cho thấy mối liên quan chứ không chứng minh béo phì trực tiếp gây dị ứng và cần nghiên cứu thêm để làm rõ mối liên quan này.

Nghiên cứu được thể hiện tại hội nghị thường niên của Học viện dị ứng, hen và miễn dịch Hoa Kỳ. Nghiên cứu được trình bày ở hội nghị khoa học nên được xem là sơ bộ cho đến lúc được đăng trên tạp chí có bình duyệt.

BS P.Liên

(Theo Healthday)

Bệnh tay chân miệng lây qua đường nước bọt

Câu hỏi:Chào Bác sĩ! Tôi năm nay 28 tuổi. Xin hỏi nếu như tôi mắc bệnh chân tay miệng lúc cho con bú có ảnh hưởng đến con không Bác sĩ?

Trả lời:

Trong thời điểm giao mùa hiện nay, bệnh tay chân miệng đang có nguy cơ bùng phát trở lại. Rất nhiều phụ nữ đang nuôi con bằng sữa mẹ mắc bệnh rất lo sợ sẽ truyền bệnh cho con.

Về vấn đề này,ThS. Nguyễn Kiên Cường - Viện Y học dự bộ phận Quân đội, cho biết:

Bệnh chân tay miệng lây truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc với dịch tiết nước bọt, đờm, dịch mũi họng, dịch tiết từ nốt phổng bị vỡ ra, hoặc qua phân của người bệnh. Bệnh không lây qua sữa mẹ; bởi vậy khi bú sữa mẹ, trẻ sẽ không có nguy cơ bị lây bệnh.

Tuy nhiên trong quá trình tiếp xúc sắp với mẹ, bé có thể bị lây nhiễm bệnh từ mẹ qua các đường trên. Vì vậy, người mẹ mắc bệnh cần đeo khẩu trang khi tiếp xúc với bé, rửa tay thường xuyên bằng xà phòng, tránh việc tiếp xúc sắp gũi với con như ôm, hôn. Thời gian lây truyền từ trước khi xuất hiện nốt phỏng hai ngày cho đến lúc nốt phỏng đã liền và bong vảy.

Như vậy, việc cách ly giữa mẹ và bé là biện pháp bộ phận bệnh hiệu quả nhất.

ThS. Nguyễn Kiên Cường

Những điều cần biết về u xơ tử cung

1. U xơ tử cung rất phổ biến

Một nghiên cứu cho thấy khoảng 70-80% phụ nữ bị khối u này khi tới độ tuổi 50. Tuổi dễ mắc bệnh nhất là 40-50 tuổi.

2. U xơ tử cung không phải là ung thư

U xơ tử cung là khối u lành tính, không phải là ung thư, nhưng u xơ tử cung có thể có những triệu chứng như vậy 1 dạng ung thư hiếm gặp gọi là sarcoma tử cung. Không may là các nhà khoa học chưa có cách nào tin cậy để phát hiện sarcoma, trừ khi họ thực hiện phẫu thuật để cắt bỏ khối u xơ. Nếu bạn bị u xơ, bác sĩ sẽ xem xét nguy cơ sarcoma tử cung của bạn.

3. Những người có nguy cơ

Những phụ nữ gốc Mỹ-Phi có nguy cơ cao hơn bị u xơ tử cung. Thực vậy, họ dễ bị u xơ tử cung gấp 2-3 lần. U xơ tử cung này cũng có thể xảy ra khi tuổi trẻ hơn, khối u to hơn và gây ra những triệu chứng nghiêm trọng hơn. Bạn cũng có thể bị nâng cao nguy cơ u xơ tử cung nếu chưa từng mang thai, bị thừa cân nhiều, hoặc có người thân bị u xơ.

4. Nhiều người không có triệu chứng và Không nhất thiết điều trị

U xơ tử cung chỉ cần điều trị khi nó gây ra các triệu chứng – và phần lớn phụ nữ bị u xơ không có triệu chứng. Nếu có các triệu chứng liên quan, có thể không nhất thiết phải điều trị theo cách nào khác ngoài việc theo dõi trên lâm sàng nếu thấy có nguy cơ sarcoma.

5. U xơ là nguyên do hàng đầu khiến phải cắt tử cung

Có hơn 200.000 ca phẫu thuật cắt tử cung được thực hiện mỗi năm tại Mỹ vì u xơ tử cung. Ngoài việc khiến người bệnh không còn khả năng sinh nở, bản thân thủ thuật này cũng mang tới nhiều nguy cơ. Vì vậy, các bác sĩ chỉ chỉ định phẫu thuật khi u xơ gây đau nhiều hoặc không đáp ứng với các phương pháp khác.

6. Cắt tử cung không phải lựa chọn duy nhất

Hiện nay có 1 số phương pháp điều trị có thể được sử dụng để làm teo hoặc làm chậm sự phát hiển của khối u xơ, bào gồm điều trị hormon, liệu pháp siêu âm hoặc bóc u xơ. Nếu u xơ tử cung không cần thiết cắt bỏ, có những phương pháp khác có thể giúp xử lý các triệu chứng như ibuprofen, thuốc tránh thai hoặc đốt (một thủ thuật dùng sóng cao tần để phá hủy)

7. Triệu chứng hay gặp nhất là kinh nguyệt nhiều

Khi bị u xơ tử cung, bạn có thể bị ra máu nhiều trong kỳ kinh, thậm chí có thể có các cục máu đông. U xơ cũng có thể gây chảy máu giữa kỳ kinh, buồn tiểu thường xuyên, co thắt vùng chậu, chướng bụng, đau khi giao hợp.

8.Gây khó mang thai

Phần lớn phụ nữ bị u xơ vẫn mang thai tự nhiên nhưng có thể gặp các biến chứng. Nghiên cứu cho thấy 1 số loại u xơ tử cung có thể làm đánh tráo kích thước và hình dạng của tử cung, ảnh hưởng đến khả năng mang thai của phụ nữ, mặc dù các chuyên gia ước tính u xơ chỉ gây vô sinh cho 1-2 % các trường hợp.

U xơ cũng có liên quan tới nguy cơ phải sinh mổ cao hơn gấp 6 lần và nguy cơ băng huyết sau đẻ.

9. Hiện vẫn chưa rõ nguyên nhân

Nguyên nhân chính xác của những đột biến gây u xơ tử cung vẫn chưa được làm rõ. Nghiên cứu bây giờ thiên về những tác động của các hormon như estrogen và progesteron, vì vậy, khối u hiếm khi có hiện tượng trước khi có kì kinh nguyệt đầu tiên và giảm sau khi mãn kinh. Stress, chính sách ăn và các nhân tố môi trường cũng có thể đóng vai trò cần yếu trong phát triển u xơ.

BS Cẩm Tú

(Theo WHM/ Univadis)

Nước dừa: Rất tốt cho trẻ nhỏ

Dừa được trồng rất nhiều ở các nước nhiệt đới và được xem là một loại cây cho giá trị cao. Nước dừa hay nước dừa non thường có trong các quả dừa non, hoặc còn xanh và trẻ nhỏ thường rất thích uống bởi vị ngọt, mát.

 

Nước dừa là một trong những nguồn giàu chất điện phân. Nó cũng chứa nhiều clorua, kali, magiê và 1 lượng đường, natri và protein vừa phải. Nước dừa cũng là nguồn mang đến chất xơ, mangan, canxi, riboflavin và vitamin C.

Nước dừa được xem là rất tốt với những người bị kiệt sức bởi nó giúp cơ thể bổ sung lượng muối đã bị mất trong cơ thể. Đối với trẻ nhỏ, nước dừa giúp ngăn ngừa tình trạng khử nước khi trẻ bị tiêu chảy.

Vào những tháng mùa hè nóng bức, lúc bé yêu của bạn (dưới3 tuổi) khát, nước dừa sẽ tốt cho trẻ hơn là các loại nước quả và các loại nước có ga. Nó vô hại vì thế tốt cho trẻ nhỏ trong những chuyến du lịch, nơi mà bạn thường lo lắng vào sự ô nhiễm nguồn nước.

Nước dừa cũng là thuốc lợi tiểu tự nhiên và vì thế có tác dụng bài tiết nước tiểu nhanh hơn. Nó cũng giúp ngăn ngừa tình trạng nhiễm trùng đường tiểu và chứng phong hàn.

 Nước dừa được xem là loại nước bổ dưỡng và nhất là phù hợp với trẻ nhỏ tại mọi độ tuổi 
Nước dừa cũng giúp giảm táo bón, cải thiện chức năng đường ruột và tăng cường chức năng tiêu hóa. Nó cũng tốt cho trẻ sơ sinh, những trẻ có khiếu nại về đường ruột.

Nước dừa rất giàu axit lauric (một loại axít béo được tìm thấy dưới dạng glyxêrin trong 1 số chất béo tự nhiên, nhất là là trong dừa và nhân của cọ), một hợp chất mà cơ thể thường dùng để tổng hợp ra monolaurin- 1 kháng sinh tự nhiên. Trẻ sơ sinh được cung cấp các kháng thể này qua sữa mẹ và vì thế nước dừa cũng rất tốt cho các bà mẹ đang cho con bú. Axit lauric có khả năng kháng nấm, kháng khuẩn, bảo vệ trẻ khỏi các bệnh truyền nhiễm khác.

Với toàn bộ những điều hoàn hảo trên, nước dừa được xem là loại nước bổ dưỡng và nhất là phù hợp với trẻ nhỏ ở mọi độ tuổi.

TheoNhân Hà dantri.gif

10 `bí kíp` khi con chuẩn bị thi đại học

Nguyễn Thu Thủy

Sau 12 năm đèn sách miệt mài, đây là thời gian các em học sinh bước về ôn luyện bận rộn nhất, chuẩn bị cho kỳ thi đại học. Phụ huynh chúng ta có thể làm 1 số việc giúp con em mình bảo đảm chất lượng ôn tập trước khi thi và ổn định tâm trạng trong khi thi.

1 Trước tiên, tinh thần của cha mẹ phải ổn định trước, như thế sẽ làm cho con mình thi cử với tâm trạng ổn định. Trong thời gian con mình ôn tập chuẩn bị cho kỳ thi, phụ huynh cần loại bỏ những ảnh hưởng tới từ bên ngoài, bảo đảm luôn ở trong trạng thái hòa nhã, điều đó có tác dụng lớn đến chất lượng ôn tập của con em mình.

2 Cần phải luôn vui vẻ, có một số phụ huynh sợ con thi không được tốt nên lo lắng, buồn, ít nói, như thế con sẽ biết cha mẹ còn hồi hộp hơn mình. Phải tạo bầu không khí gia đình đầm ấm, hòa thuận. Sức mạnh tình cảm là hết sức lớn lớn, bầu không khí đầm ấm sẽ làm tiêu tan sự lo âu, buồn phiền và nóng vội, giúp các em điều chỉnh vào tinh thần, tăng chất lượng ôn tập.

3 Khuyên con nỗ lự hết sức mình. Thường thì đa số phụ huynh các học sinh giỏi, trước khi thi không nói nhiều, không dặn đi dặn lại: “Con phải dồn hết tâm trí, phải cẩn thận tỉ mỉ” Và cũng không nói, ví dụ không thi được thì hậu quả sẽ ra sao, và cũng không hứa là thưởng gì đó cho con, càng không bao giờ dọa nạt con. Tốt nhất chỉ nên nói với con “Khi thi con nỗ lự hết mình là được rồi”.

4 Phụ huynh với con đề ra kế hoạch ôn tập sao cho hợp lý. Đưa ra kế hoạch ôn tập, chính yếu là theo ý kiến của con, cha mẹ có thể nêu ý kiến và khuyên 1 số điều cần thiết, tuyệt đối không nên làm hộ theo ý mình.

5 Tạo môi trường ôn tập yên tĩnh, vì có yên tĩnh các em mới có tâm trạng thanh thản, và tăng hiệu quả ôn tập. Một môi trường ồn ào, không những khiến các em cáu kỉnh mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả.

6Khuyên con nên dành một ít thời gian để vận động và giải trí nhẹ nhàng. Trong thời gian tại nhà ôn tập, có không ít em cứ ngồi xuống làm bài hay xem sách là ngồi cả 1 buổi, trưa cũng không nghỉ, đến đau đầu nhức óc, tương tự không những không tốt cho việc học mà còn ảnh hưởng đến tinh thần.

7 Khuyên con nên Quan tâm giữ gìn sức khỏe. Có những em trước lúc thi bị đi ngoài do ăn uống mất vệ sinh. Có một số em thì do mở máy điều hòa nhiệt độ trong thời gian dài, còn có em thì bị cảm nắng do thời tiết quá nóng bức. Điều này không những ảnh hưởng tới tinh thần của các em, mà còn ảnh hưởng tới việc ôn tập. Phụ huynh phải Quan tâm giữ vệ sinh trong ăn uống cho các em, không nên cho con ăn nhiều thịt, cá và những thức ăn nhiều mỡ, uống nhiều nước lạnh, vì những thức ăn đồ uống này dễ gây rối loạn tiêu hóa.

8 Thường xuyên giúp các em điều chỉnh tinh thần. Trong thời gian ôn tập chuẩn bị thi, tâm trạng có một số thay đổi, thậm chí có hiện tượng sự buồn bực không yên, đây cũng là hiện tượng bình thường, phụ huynh không nên quá lo ngại. Nhưng cũng nên bình thản và xuất phát từ góc độ tôn trọng con, giúp con cân bằng tâm lý một cách kịp thời, tránh tình trạng này tiếp tục phát triển.

9 Chuẩn bị một túi thuốc nhỏ. Trong thời gian này, rất có thể là các em dễ bị ốm vặt như: cảm cúm, rối loạn tiêu hóa… bởi vậy phải chuẩn bị những thuốc thông dụng. Tuy nhiên, cũng đừng chủ quan hãy nên hết sức Quan tâm việc bộ phận bệnh là chính.

10

Hãy phụ với con chuẩn bị những thứ cần dùng trong khi con đi thi. Tối hôm trước ngày thi phải nhắc nhở xem các em đã bỏ thẻ dự thi vào túi chưa? Hai ngày trước khi thi nếu có điều kiện hãy cùng con đi xem trường thi… Trước khi con đi thi, phụ huynh phải làm rất tốt việc bảo đảm tinh thần của con ở trạng thái tốt, đảm bảo chất lượng ôn tập bằng hành động thực tế của mình, giúp con đạt được giấc mơ về đại học.

(Nguyễn Thu Thủy)

Rối loạn tiêu hoá: Bệnh dễ mắc ở trẻ em

BS. Trần Trung

Trong ruột người có hàng nghìn loại vi khuẩn khác nhau, các vi khuẩn có lợi và có hại sống "bình đẳng" với nhau lúc cơ thể khỏe mạnh. Do nhiều nguyên nhân như sử dụng thuốc kháng sinh chỉ mất khoảng dài, chế độ ăn nhiều đường hoặc quá ít sữa lên men tự nhiên như sữa chua, phô mai không béo..., uống nhiều bia rượu... sự cân bằng này bị biến mất. Khi các vi khuẩn có lợi bị tiêu diêt, các vi khuẩn có hại tiện lợi xâm nhập gây ra các triệu chứng rối loạn tiêu hoá như tiêu chảy, đầy hơi, trướng bụng, táo bón, đáp ứng miễn dịch kém, mệt mỏi mạn tính, dị ứng...

 Cho trẻ ăn dặm với thức ăn đầy đủ dinh dưỡng để tránh rối loạn tiêu hóa. Ảnh: PV

Căn bệnh này rất nguy hiểm vì đối tượng dễ mắc phải đặc biệt trẻ em, đặc biệt là trẻ em đang tại độ tuổi ăn dặm. Khi còn nằm trong bụng mẹ, trẻ được sống trong môi trường vô trùng, được bảo vệ cẩn thận. Lúc ra đời, hệ miễn dịch của trẻ còn rất non yếu, các vi khuẩn thuận lợi xâm nhập. Khi trẻ Tiến hành ăn dặm , không còn chỉ ăn sữa nữa, hệ vi sinh của trẻ chưa hoàn thiện, dễ dẫn đến tình trạng suy giảm chức năng tiêu hoá, thức ăn không được tiêu hoá hoàn toàn (cơ thể khó hấp thu dinh dưỡng, phân sống...) khiến các vi khuẩn gây bệnh phát triển. Khi nhiễm khuẩn, trẻ thường lười ăn, hay nôn, tiêu chảy, táo bón... Qua thời gian ngắn, trẻ sẽ bị suy dinh dưỡng. Khi cơ thể trẻ yếu thì các vi khuẩn có hại này làm bệnh càng trầm trọng hơn.

Bệnh này còn dễ không may gặp phải tại những trẻ dùng thuốc kháng sinh chỉ mất khoảng dài. Các chất kháng sinh không mục tiêu diệt vi khuẩn có hại mà còn diệt luôn cả vi khuẩn có lợi. Lợi dụng thời điểm đó, các vi khuẩn có hại xâm nhập và phát triển mạnh hơn, gây mất cân bằng hệ thống vi khuẩn đường ruột (còn gọi là " loạn khuẩn ruột" ), dẫn tới rối loạn tiêu hoá.

Hoặc lúc trẻ phải chịu một chế độ ăn uống không hợp lý, giàu đạm, đường, chất béo... ít chất xơ, vitamin, chất khoáng... mà các bà mẹ vận dụng cũng là nguyên do gây ra các bệnh vào đường tiêu hoá cho trẻ. Trẻ sẽ biếng ăn, không hấp thu được các chất dinh dưỡng, dễ gây suy dinh dưỡng, ảnh hưởng mạnh mẽ đến quy trình phát triển của cơ thể.

Khi trẻ có các dấu hiệu của rối loạn tiêu hóa như biếng ăn, đi ngoài phân sống... cần đưa trẻ đi khám bác sĩ. Thông thường bên cạnh việc điều chỉnh chính sách ăn phù hợp, bác sĩ sẽ chỉ định sử dụng men tiêu hóa để lập lại cân bằng hệ vi sinh đường ruột, các nhà khoa học nhận định rằng cách rất tốt nhất là bổ sung 1 hệ vi khuẩn mới có lợi dưới dạng chế phẩm Probiotic. Các vi khuẩn được chọn lựa chính yếu là vi khuẩn tại nhóm Lactic (Lactobacillus, Streptococcus). Loại men này sẽ giúp lập lại cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột, hỗ trợ điều trị rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy, đầy hơi, khó tiêu... với những trẻ lười ăn, kém hấp thu.

(BS. Trần Trung)